Tâm sự cô giáo vùng cao

Ngày đăng: Lượt xem:

          Bình minh lên, ngày mới lại bắt đầu, mọi sự vật lại theo nhịp sống hối hả chuyển động và tôi lại tiếp tục với công việc của nghề dạy học chuẩn bị hành trang đến trường. Đi trên con đường rất đỗi quen thuộc mà không hiểu sao hôm nay tâm trạng tôi thật xáo trộn, tràn ngập trong niềm vui sướng. Học sinh lớp 1 của tôi đã có rất nhiều tiến bộ về tính cách cũng như  kiến thức để các em chuẩn bị lên lớp 2. Song xen lẫn vào đó là một nỗi buồn man mác khi nghĩ về những ngày đầu tiên đi dạy. Từ nhà, trên hành lý với chiếc ba lô của bộ đội cụ Hồ và hành quân với đôi chân trần qua gần 50 km đường rừng. Đến trường, tôi được Ban giám hiệu nhà trường phân công vào giảng dạy lớp 1 ở thôn 1 cách điểm trường chính 5 km. Khi nhận lớp với 12 học sinh nhưng chỉ có mặt 5 em. Tôi và các em ngôn ngữ bất đồng, vì vậy cô và trò không hiểu được nhau. Tôi từ miền xuôi lên, đang sống trong một làng quê yên bình và vui vẻ, có gia đình và bạn bè, còn lên đây chỉ có một mình. Tôi nghĩ chắc sẽ không chịu nổi. Thế mà đến nay, đã hơn 20 năm trong nghề, cảm giác của buổi đầu vẫn ghi nhớ trong tôi, cảm giác đó luôn cho tôi những động lực và sự trăn trở mỗi khi bước lên bục giảng: “làm thế nào để cho học trò của mình trưởng thành sau mỗi bài giảng, làm thế nào để sau mỗi năm học các em có được những kiến thức cơ bản để tiếp tục học lên lớp trên và có kỹ năng sống để hòa nhập tốt trong các mối

          Năm học, 2015-2016, tôi được phân công dạy lớp 1 tại điểm trường lẻ  KonSKôi cách điểm trường chính 3km. 100% số hộ là người dân tộc thiểu số, số hộ nghèo chiếm hơn 50 %. Người dân ở đây đã có sự tiến bộ song vì cuộc sống mưu sinh họ vẫn chưa nhận thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc học tập đối với con em, vì thế họ rất ít quan tâm và chăm lo đến việc học tập của con em. Trong những ngày đầu nhận lớp học sinh vẫn còn hay vắng học đi theo mẹ lên nương rẫy. Trước những khó khăn thường gặp trong công tác giảng dạy tại vùng có 100% học sinh là người dân tộc thiểu số và bằng những kinh nghiệm của bản thân tôi đã tham mưu với ban giám hiệu nhà trường và phối hợp cùng với các tổ chức đoàn thể của thôn trong công tác xã hội hóa giáo dục để vận động học sinh đến lớp, đến trường. Đến nay học sinh đã đi học đầy đủ, chuyên cần, chất lượng học sinh tiến bộ rõ rệt. Đối với bản thân tôi qua nhiều năm trực tiếp dạy các em là học sinh là người dân tọc thiểu số tôi rút ra được niều kinh nghiệm:

           Khi giảng dạy đối với học sinh là người dân tộc thiểu số, đặc biệt là học sinh lớp 1, tâm lý của các em còn rụt rè, nhút nhát, người giáo viên cần phải có sự kiên trì và nhẫn nại, phải luôn quan tâm đến các em, tạo ra sự gần gũi thân thiện với các em. Khi bước vào lớp học, trong tiết sinh hoạt 15 phút đầu giờ, người giáo viên không nên có những hình thức kiểm tra ngay mà cần phải giao lưu với các em. Ví dụ: Hỏi các em: Bạn nào hãy kể cho cô nghe, sáng nay các em ăn gì? Bạn nào hãy kể cho cô hôm qua em làm gì?… Và những câu khen: Bạn Y Nga lớp chúng ta hôm nay ăn mặc sạch sẽ, tóc buộc rất đẹp…đồng thời giáo viên đến xoa đầu các em kèm theo một nụ cười thân thương. Khi thấy học sinh nào áo quần còn sộc sệch, đầu tóc chưa gọn gàng giáo viên cần sửa lại cho các em. Từ cách này, người giáo viên sẽ gây được thiện cảm với học sinh và tạo ra sự gần gũi thân mật với các em, đồng thời tạo ra được không khí thỏai mái để bước vào buổi học, và cũng là để  tăng cường vốn tiếng Việt cho các em.

           Vốn từ của học sinh người dân tộc thiểu số còn ít, đây là một rào cản dẫn đến các em tiếp thu bài chậm. Giáo viên, khi giảng dạy cho học sinh người dân tộc thiểu số rất khó khăn khi giao tiếp và truyền thụ kiến thức. Vì vậy khi dạy, người giáo viên cần phải chuẩn bị tốt đồ dùng dạy học và tận dụng những vật thật gần gũi với các em để cung cấp vốn từ tiếng Việt cho học sinh.

           Ngẫm lại cuộc sống của giáo viên trước kia ở vùng sâu, vùng xa thật khó khăn, vất vả. Nay, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước có những chính sách cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số nên điều kiện đã được đổi thay đặc biệt là điều kiện về điện, đường, trường, trạm. Vì vậy  cuộc sống người dân tộc thiểu số đã được quan tâm cải thiện rất nhiều về đời sống vật chất cũng như tinh thần, đồng thời cuộc sống người giáo viên cũng đã được cải thiện. Tuy nhiên công tác ở vùng có đa số học sinh là người dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều gian truân vất vả đặc biệt là việc huy động cho các em đi học chuyên cần. Người giáo viên không những là một người thầy, mà còn là người cha, người mẹ để chăm sóc và động viên các em đến lớp đến trường. Muốn có được chất lượng học sinh tốt thì không những người giáo viên có phương pháp dạy học tốt mà cần phải hiểu tâm lý trẻ và có mối quan hệ dân vận tốt đối với nhân dân.

           Vất vả đó mà cũng thật vui với nghề khi các em biết đọc, biết viết, biết tính toán. Hạnh phúc của người giáo viên ở vùng cao là vậy. Thế mà, trong thời gian qua, qua các phương tiện, thông tin đại chúng, tôi được biết một số giáo viên ở vùng có điều kiện kinh tế thuận lợi đã không những không đảm nhiệm tốt vai trò chức năng của nghề dạy học mà có những phương pháp giáo dục phi khoa học hành hạ các em học sinh của mình bằng cách đánh đập, bằng những lời lăng mạ học sinh, làm xấu đi hình ảnh của người thầy, làm giảm niềm tin của nhân dân khi họ gửi gắm con em đến lớp đến trường. Thông điệp của tôi gửi đến các bạn là: Hãy nghĩ về công việc và trách nhiệm của giáo viên vùng sâu, vùng xa để thực hiện tốt vai trò trách nhiệm của mình.

         Hiện nay, Đảng ta đang đẩy mạnh cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, mỗi người giáo viên cần thấm nhuần câu nói của Bác về trẻ em: “Trẻ em như búp trên cành, biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan”. 

– Trẻ em như búp trên cành: búp trên cành nhỏ nhoi, tươi non và cần được chăm sóc. Và trẻ em được ví như mầm non ấy, như là tương lai của đất nước.

– Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan: trẻ em là thế hệ tương lai của đất nước, cần được chăm sóc, cần được học tập. Và khi mỗi trẻ em biết ăn, biết ngủ, học hành tốt chính là một trẻ em ngoan ngoãn, vừa lòng cha mẹ. Làm những điều phù hợp với lứa tuổi của mình.

Câu nói nhẹ nhàng Bác dành cho trẻ em, chứa đựng tất cả tình yêu thương, sự chăm lo của Bác. Người giáo viên phải hiểu được đặc điểm tâm lý trẻ em để làm tốt công tác giáo dục, công tác đào tạo người.

          Bác Hồ đề cao sứ mệnh của người thầy giáo: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là người thầy, là người vẻ vang nhất, những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân, thì làm sao mà xây dựng CNXH được? Vì vậy nghề thầy giáo rất là quan trọng, rất là vẻ vang”.

          Ðể làm tròn sứ mệnh vẻ vang ấy, người thầy giáo phải có phẩm chất tốt. Bác nhắc nhở: “Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa, chuyên môn; đức là chính trị. Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức. Cho nên thầy giáo, cô giáo phải  là một tấm gương sáng, mẫu mực, nhất là đối với trẻ con”.

         “Vì lợi ích mười năm, thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm, thì phải trồng người”. Nhiệm vụ “trồng người” quan trọng thì vai trò của “người trồng” càng quan trọng. Đã bao đời, nhân dân ta truyền tụng câu tục ngữ: “Không thầy, đố mầy làm nên”,“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Lịch sử từ xưa đến nay lúc nào cũng có biết bao tấm gương về những người thầy cao quý, có tài, có đức.

           Thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu, mỗi người giáo viên phải không ngừng học tập, rèn luyện về đức, tài để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục, đào tạo và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, để đưa đất nước Việt Nam phát triển và hội nhập sâu, rộng, vững bước đi lên con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng và Bác Hồ  đã lựa chọn.

     Nguyễn Thị Hòa- Giáo viên trường TH Lê Quý Đôn huyện Kon Rẫy

Thống kê truy cập

0036197
Hôm nay : 46
Hôm qua : 70
Tháng này : 1567
Tổng truy cập : 36197
Đang trực tuyến : 6
Địa chỉ IP: 54.234.190.237